|
ên miền .vn 1-2 ký tự là tên miền cấp 2 được lập nên từ 26 chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Anh (từ a đến z) và 10 chữ số tự nhiên từ 0-9. Tổng cộng có 36 tên miền một ký tự dưới đuôi cấp 2 .VN như a.vn, x.vn.., và 1.296 tên miền hai ký tự, ví dụ: xe.vn, 3g.vn, hn.vn… |
Thứ Năm, 22 tháng 4, 2010
Tên miền 'quý, hiếm' của Việt Nam: bán mua trên giấy
Giản tiện nhiều cho doanh nghiệp
| Ảnh mang tính minh họa. Nguồn internet. |
Mới đây, Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Phùng Hà - Cục trưởng Cục Hóa chất (Bộ Công Thương) để tìm hiểu thêm về tiện ích còn rất mới mẻ này.
Ở Việt Nam, công nghiệp hóa chất tăng trưởng với tốc độ cao, 15-20%/năm, xin ông cho biết sự cần thiết phải thực hiện khai báo hóa chất?
- Theo Điều 43 của Luật Hóa chất, các tổ chức, cá nhân nhập khẩu hóa chất phải thực hiện khai báo hóa chất với Bộ Công Thương. Đồng thời, tổ chức, cá nhân sản xuất hóa chất phải khai báo hóa chất với cơ quan chuyên môn quản lý hóa chất của UBND cấp tỉnh. Việc khai báo là rất cần thiết, bởi hóa chất là ngành liên quan đến rất nhiều ngành, có tiềm năng phát triển nhưng cũng là ngành có khả năng gây ô nhiễm môi trường rất cao, vì thế đòi hỏi có sự quản lý nghiêm ngặt, đảm bảo phát triển bền vững. Mỗi năm trên thế giới có khoảng hơn 400 triệu tấn hóa chất được sản xuất; 70.000- 100.000 loại hóa chất đang được sản xuất hoặc nhập khẩu; 1500 hóa chất mới xuất hiện.
Riêng ở Việt Nam, công nghiệp hóa chất tăng trưởng với tốc độ cao, những năm gần đây thường đạt mức 15-20%/năm. Sự phát triển này kéo theo vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng tăng với nhiều hóa chất độc hại tồn tại dai dẳng. Theo Hiệp hội quốc gia nghiên cứu Mỹ, có tới 80% từ hơn 50.000 hóa chất công nghiệp chưa từng được nghiên cứu về tính độc hại. Ngay cả tại châu Âu, phần lớn trong số hơn 100.000 hóa chất đã từng được đăng ký vào thị trường, nhưng chưa hề được nghiên cứu về ảnh hưởng đối với môi trường, tính độc hại, khả năng gây ung thư… Việc khai báo hóa chất sẽ giúp các cơ quan quản lý nắm được thông tin về khối lượng, về tính độc hại của hóa chất cũng như các biện pháp xử lý khi có sự cố; tăng cường sự minh bạch và cảnh báo cho người sử dụng; giúp quản lý được số lượng và chủng loại hóa chất nhập khẩu và sản xuất.
Lần đầu tiên Việt Nam thực hiện việc khai báo hóa chất ở mức độ 4 qua mạng, vậy doanh nghiệp sẽ được hưởng những lợi ích gì từ việc khai báo trực tuyến này?
- Đây là lần đầu tiên, Việt Nam thực hiện việc khai báo hóa chất ở mức độ 4 qua mạng (là mức độ cao nhất trong dịch vụ công trực tuyến). Chương trình do Cục Hóa chất phối hợp với Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin xây dựng. Trong đó, Cục Hóa chất sẽ hỗ trợ doanh nghiệp về mặt nghiệp vụ khai báo; Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin hỗ trợ doanh nghiệp về mặt kỹ thuật. Khi đưa vào sử dụng, hệ thống này là dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 đầu tiên của cả nước. Theo đó, toàn bộ quy trình cung cấp dịch vụ gồm việc khai hồ sơ và xử lý hồ sơ sẽ hoàn toàn được tiến hành qua mạng, kết quả được trả qua đường bưu điện, an toàn thông tin sẽ được đảm bảo với công nghệ chữ ký số. Doanh nghiệp tham gia cần đăng ký hệ thống và trang bị thiết bị chữ ký số chuyên dụng.
Việc triển khai Hệ thống cấp giấy xác nhận khai báo hóa chất trực tuyến sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp. Việc khai báo qua mạng giúp đơn giản hóa và giảm tải giấy tờ trong quá trình khai báo của người sử dụng, tiết kiệm tối đa thời gian, chi phí cho các doanh nghiệp, tổ chức khai báo hóa chất. Cụ thể, việc khai báo được thực hiện qua đường văn bản trước đây theo quy định sẽ xử lý trong vòng 15 ngày, nhưng nếu khai báo qua mạng, phấn đấu rút ngắn thời gian xuống chỉ còn 1- 2 ngày. Đây là một bước đột phá về thời gian xử lý hồ sơ. Theo Nghị định số 108/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 2008 “Bộ Công Thương xây dựng hệ thống quản lý tiếp nhận thông tin khai báo, báo cáo hóa chất qua mạng điện tử trước ngày 31/12/2010”, với sự phối hợp tích cực của Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin, công việc trên sẽ hoàn thành trước 6 tháng.
Quá trình thực hiện khai báo hóa chất qua mạng được chia làm hai bước: Bước 1, từ tháng 4 đến hết tháng 5/2010 sẽ triển khai thử nghiệm hệ thống với các doanh nghiệp tự nguyện. Bước 2, từ tháng 6/2010, triển khai hệ thống chính thức cho các doanh nghiệp hóa chất trên cả nước. Tiếp theo, Cục Hóa chất sẽ tiến hành một số dịch vụ công khác qua mạng điện tử.
Việc áp dụng hệ thống khai báo hóa chất trực tuyến là một hoạt động tất yếu, trong bối cảnh các bộ, ngành tích cực triển khai Đề án 30 về đơn giản hóa thủ tục hành chính trên cả nước. Bộ Công Thương là một trong những đơn vị tiên phong trong triển khai thủ tục này với việc đi đầu trong cung cấp trực tuyến dịch vụ công ở mức độ 3 và 4.
Mạo danh website bán hàng trực tuyến
Để chuẩn bị cho lễ đính hôn, anh Vũ quyết định chọn mua sản phẩm nhẫn cưới tại website thegioinhancuoi. Thấy nick hỗ trợ trực tuyến của website sáng đèn, anh Vũ nhấp vào để tham khảo sản phẩm. Người bán tư vấn nhiệt tình và liên tục nhắc đôi nhẫn cưới hiện chỉ còn một, anh Vũ nên chuyển khoản đặt hàng trước. Giao dịch diễn ra trôi chảy cho đến khi nhân viên bán hàng đưa số tài khoản trong Đồng Nai. Anh Vũ bắt đầu nghi ngờ vì địa chỉ công ty ở Hàng Bạc, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Cẩn thận, anh tìm kiếm thông tin trên Google về nick đang giao dịch với mình. Kết quả cho thấy nick này đã bị nhiều người tố cáo lừa đảo. Bức xúc, anh Vũ gửi các đường link tố cáo vào chính nick mà anh vẫn liên lạc. Ngay lập tức, nick này "out". Để cảnh báo người tiêu dùng, anh Vũ lập topic trên mục thông báo, khiếu nại của diễn đàn muare.vn. Trong topic, anh chỉ rõ hành vi lừa đảo của hacker kèm bằng chứng là màn hình chụp số di động, nick mạo danh. Trả lời VnExpress.net, anh Phan Quang Viện, Giám đốc Công ty TNHH Trường Sinh (quản lý website thegioinhancuoi.com) ngạc nhiên trước thông tin trang bán hàng bị hack. Anh Viện cho biết công ty ít cập nhật thông tin lên website. Phần kỹ thuật do quản trị mạng điều hành. Ngay sau lập topic, anh Vũ nhận được nhiều chia sẻ từ các nạn nhân khác. Thủ thuật của hacker này thường là mạo danh nick bán hàng uy tín để rao bán hàng trực tuyến giá rẻ. Bằng nhiều giọng điệu khác nhau, hacker gạ gẫm nạn nhân chuyển trước tiền cọc vào tài khoản ảo. Không cẩn thận như anh Vũ, anh Linh bị lừa 3,5 triệu đồng sau khi giao dịch mua điện thoại với người mạo danh nick nokiaxxxx bán điện thoại uy tín trên mạng. Ban đầu, anh Linh cho rằng chính người bán hàng lừa đảo nên lập topic kiện. Tuy nhiên, chủ nhân thật của nick nokiaxxxx phủ nhận lời buộc tội. Sự việc trở nên căng thẳng khi cả hai bên nổi nóng, hẹn gặp để "xử". May mắn, các thành viên khác cung cấp thêm thông tin chứng thực kẻ giao dịch, lừa đảo anh Linh không phải chủ nhân nick nokiaxxxx. Bằng thủ thuật hack, kẻ mạo danh đã tạm "mượn" nick nokiaxxxx để thực hiện hành vi lừa đảo. Nhận định về cách thức lừa đảo trực tuyến này, anh Nguyễn Minh Đức, Giám đốc bảo mật Trung tâm An ninh mạng BKIS, cho biết đây là kiểu lừa đảo khá tinh vi hacker đã lợi dụng sự uy tín từ các website. Ban đầu, hacker chiếm quyền kiểm soát của trang web sau đó tiếp tục giả mạo nick nhân viên bán hàng. Theo thống kê của Cục Tin học nghiệp vụ, Bộ Công an, năm 2009 số lượng các trang web có chứa mã độc hại tăng gấp nhiều lần so với năm trước đó. Các website bị tấn công chủ yếu là trang kinh doanh trực tuyến, ngân hàng, các tổ chức cung cấp dịch vụ. Trong năm 2009, ở Việt Nam có trên 64,7 triệu lượt máy tính bị nhiễm virus, đáng chú ý là có tới 47.000 biến thể virus máy tính mới xuất hiện, tăng khoảng 30% so với năm 2008. Dự báo về xu hướng của tội phạm công nghệ cao ở Việt Nam năm 2010, ông Nguyễn Viết Thế, Cục trưởng, Cục Công nghệ Tin học nghiệp vụ, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an, cho rằng tội phạm công nghệ cao vẫn ở mức báo động đỏ. Đối tượng bị "nhắm" đến đầu tiên vẫn là cơ sở dữ liệu của hạ tầng thông tin quốc gia, của ngân hàng và các doanh nghiệp lớn. Sau đó là lừa đảo liên quan đến thẻ, tài khoản ngân hàng, chứng khoán, thương mại điện tử, thanh toán. Ông Vũ Quốc Khánh, Giám đốc Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam cũng cho biết tình hình tội phạm công nghệ cao gia tăng cả về số lượng và mức độ tinh vi. Mới đây Thủ tướng đã phê duyệt Quy hoạch phát triển an toàn thông tin quốc gia đến năm 2010. Theo đó, từ nay đến năm 2020, ngân sách Nhà nước dự kiến sẽ chi gần 1.000 tỷ đồng cho 6 dự án ưu tiên nhằm xây dựng các thiết chế và cơ sở hạ tầng kỹ thuật đảm bảo an toàn thông tin quốc gia. Anh Nguyễn Minh Đức khuyến cáo cộng đồng cư dân mạng phải cẩn thận xác minh lại thông tin chuyển khoản, người bán hay sản phẩm cần mua khi mua bán trực tuyến. Ngoài ra, các website bán hàng trực tuyến cũng phải thường xuyên nâng cấp, đảm bảo an ninh và thông tin quản trị để tránh những vụ lừa đảo làm hạ thấp uy tín của công ty.
Việt Nam: 20% không tin tưởng thông tin trên Internet
Ngày 13/4, trong buổi làm việc với Thứ trưởng Bộ TT&TT Lê Nam Thắng, Công ty Cổ phần Tập đoàn ViNa (VNG) đã công bố Báo cáo NetCitizens Việt Nam về tình hình sử dụng và tốc độ phát triển Internet tại Việt Nam. Báo cáo này do hãng Cimigo có trụ sở tại TP. HCM thực hiện và do VNG tài trợ. Báo cáo đã khảo sát gần 3.000 người sử dụng Internet tại 6 thành phố lớn là Hà Nội, TP. HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, trong tháng 10 và 11/2009, sử dụng phương pháp phỏng vấn qua điện thoại. Tỉ lệ sai số của khảo sát này là 1-2%. Theo Báo cáo, tỷ lệ người sử dụng Internet tại Việt Nam là 26% dân số, tương tự với các quốc gia khác trong khu vực như Trung Quốc, Philippines và Thái Lan. Tuy nhiên, Internet tại Việt Nam đã chứng kiến sự tăng trưởng nhanh chóng trong vài năm trở lại đây. Tại khu vực thành thị, khoảng 50% dân số có truy cập Internet. Nhóm trẻ tuổi thường sử dụng dịch vụ Internet công cộng hoặc ở quán cà phê Internet. So với tổng dân số, người sử dụng Internet nằm trong độ tuổi trẻ hơn (trung bình khoảng 36 tuổi), 50% số người sử dụng Internet dưới 27 tuổi. Theo Báo cáo, chỉ có khoảng 40% người sử dụng Internet Việt Nam từng truy cập vào một website mua bán hay đấu giá trực tuyến, và chỉ một số ít từng sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến. Hiện mới chỉ có 15% nghĩ rằng việc mua các sản phẩm trên mạng là an toàn. 60% không tin tưởng vào các hệ thống thanh toán trực tuyến. Tuy vậy, kinh doanh trực tuyến đã chứng kiến một sự tăng trưởng mạnh mẽ trong vòng vài năm trở lại đây. Ngoài ra, thu thập tin tức là hoạt động phổ biến nhất trên Internet với hơn 90% người dùng sử dụng các trang web tìm kiếm và thường xuyên đọc tin tức trực tuyến. Tuy vậy, có khoảng 20% không tin tưởng vào thông tin tìm thấy trên Internet, và cho rằng thông tin trên TV và báo chí tin cậy hơn. Thứ trưởng Lê Nam Thắng đã hoan nghênh VNG và Cimigo chủ động thực hiện bản báo cáo công tác và nghiêm túc này. Bộ TT&TT cũng mong muốn về lâu dài báo cáo sẽ được công bố như một “Sách Trắng” về CNTT-TT. Bước đầu có thể là hợp tác giữa các DN và cơ quan quản lý để đưa ra báo cáo. Thứ trưởng cũng yêu cầu VNG đề xuất phương án nghiên cứu cụ thể hơn để Báo cáo có tính xác thực cao hơn.
Tất cả hệ thống ngân hàng điện tử Việt Nam có "lỗ hổng" về an ninh mạng
Bảy tình huống nguy hiểm nhất mà các ngân hàng điện tử tại Việt Nam thường mắc phải đã được các chuyên gia phân tích: lỗ hổng trong chức năng chuyển tiền có thể khiến người sử dụng bị lừa chuyển tiền cho kẻ xấu; chức năng “Khôi phục mật khẩu” bị lợi dụng để đổi mật khẩu của chủ tài khoản; sử dụng tính năng “Thắc mắc khiếu nại” để cài mã độc (backdoor) vào máy chủ, kiểm soát toàn bộ hệ thống...
Theo ông Nguyễn Minh Đức, Giám đốc Bộ phận An ninh mạng của Bkis (Bkis Security), lý do căn bản nhất khiến các ngân hàng tại Việt Nam mắc phải lỗ hổng là thiếu quy trình đánh giá độc lập về an ninh khi triển khai các hệ thống Internet Banking, cũng như thiếu việc áp dụng các tiêu chuẩn về an ninh an toàn thông tin.
“Chính vì vậy, chúng tôi tổ chức buổi Hội thảo này nhằm cảnh báo giúp các ngân hàng xây dựng hệ thống Internet Banking an toàn ngay từ lúc sơ khởi, tránh trường hợp mất bò mới lo làm chuồng. Bởi khi đó, không những người dân bị ảnh hưởng mà uy tín của ngân hàng cũng bị mất”, ông Đức phân tích.
Dịch vụ ngân hàng điện tử là một trong những ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại đang được các ngân hàng trên toàn quốc đẩy mạnh đầu tư và phát triển. Với khả năng xử lý thông tin trực tuyến, dịch vụ này mang lại nhiều tiện lợi cho khách hàng với việc cung cấp các phương thức chuyển khoản và vấn tin tài khoản online. Theo thống kê, 80% các ngân hàng trên toàn quốc đã có hoặc đang trong giai đoạn xây dựng giải pháp ngân hàng điện tử. Tuy nhiên, đi cùng với sự phát triển của các ngân hàng điện tử là sự gia tăng nguy cơ có thể bị tội phạm mạng lợi dụng tấn công vào hệ thống.
Tại Hội thảo, các chuyên gia đã đưa ra các giải pháp giúp các ngân hàng khắc phục những nguy cơ có thể tồn tại trong hệ thống như: Quy trình đánh giá độc lập chỉ ra các khiếm khuyết của hệ thống, tiêu chuẩn quản lý an ninh an toàn thông tin ISO27001, giải pháp tổng thể phòng chống virus máy tính, ứng dụng Chứng thực chữ ký số để bảo đảm an ninh cho các giao dịch…
Từ 1/6/2010 thực hiện đăng ký thành lập doanh nghiệp qua mạng
| Bằng cách đăng ký qua mạng điện tử, các doanh nghiệp sẽ không phải chờ đợi làm thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp |
Đây là một trong những nội dung mới trong Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp (ĐKDN) vừa được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ban hành ngày 15/4/2010, thay thế Nghị định số 88/2006/NĐ-CP. Quy định mới có hiệu lực thi hành từ 1/6/2010.
Cụ thể quy định việc đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử là Phòng Đăng ký kinh doanh tiếp nhận hồ sơ, xem xét hồ sơ, hướng dẫn sửa đổi, bổ sung hồ sơ và thông báo kết quả giải quyết thủ tục ĐKDN qua Hệ thống thông tin ĐKDN quốc gia. Hồ sơ ĐKDN nộp qua Cổng thông tin ĐKDN quốc gia có giá trị pháp lý như hồ sơ nộp bằng bản giấy.
Trường hợp người thành lập doanh nghiệp chưa có chữ ký điện tử, việc ĐKDN qua mạng điện tử vẫn có thể được thực hiện theo quy trình: sau khi hồ sơ ĐKDN được chấp thuận trên hệ thống thông tin ĐKDN quốc gia, doanh nghiệp sẽ in Giấy xác nhận nộp hồ sơ ĐKDN qua mạng điện tử từ Hệ thống này. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ký tên vào Giấy xác nhận nộp hồ sơ ĐKDN qua mạng điện tử và gửi đến Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Sau khi nhận được Giấy xác nhận nộp hồ sơ ĐKDN qua mạng điện tử của doanh nghiệp, Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh xem xét cấp Giấy chứng nhận ĐKDN cho doanh nghiệp.
Rút ngắn thời hạn cấp Giấy chứng nhận ĐKDN
Thay vì quy định 10 ngày như trước đây, Nghị định mới quy định, trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận ĐKDN cho doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung ĐKDN, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi doanh nghiệp, đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, thông báo lập địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp.
| Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn việc chuyển đổi dữ liệu tại các cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh sang Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Thông tin trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế lưu trữ tại tất cả các Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh đều phải được chuyển đổi vào Hệ thống thông tin ĐKDN quốc gia. |
Nếu quá thời hạn trên mà không được cấp Giấy chứng nhận ĐKDN hoặc không nhận được thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ ĐKDN thì người thành lập doanh nghiệp có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
5 thành phố thí điểm chuyển cơ quan ĐKKD cấp tỉnh thành đơn vị sự nghiệp có thu
Cơ quan ĐKKD được tổ chức ở cấp tỉnh và cấp huyện. Ở cấp tỉnh là Phòng ĐKKD thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư. Riêng TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh có thể thành lập thêm 1 hoặc 2 cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh và được đánh số theo thứ tự. Việc thành lập thêm cơ quan ĐKKD cấp tỉnh do UBND thành phố quyết định.
Ở cấp huyện sẽ thành lập Phòng ĐKKD tại các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh có số lượng hộ kinh doanh và hợp tác xã đăng ký thành lập mới hàng năm trung bình từ 500 trở lên trong 2 năm gần nhất. Trường hợp không thành lập Phòng ĐKKD cấp huyện thì UBND cấp huyện giao Phòng Tài chính - Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ ĐKKD.
Một điểm mới nữa trong Nghị định là việc quy định UBND 5 thành phố: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ sau khi thống nhất với Bộ Nội vụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, xem xét thí điểm chuyển cơ quan ĐKKD cấp tỉnh sang hoạt động theo hình thức đơn vị sự nghiệp có thu.
Ngoài ra, Nghị định còn có một số điểm mới như: doanh nghiệp đăng ký trùng tên với doanh nghiệp trước đó sẽ không phải đổi tên; mỗi doanh nghiệp sẽ được cấp một mã số duy nhất gọi là mã số doanh nghiệp, mã số này đồng thời là mã số thuế của doanh nghiệp; thống nhất lệ phí đăng ký trên toàn quốc; thống nhất một bộ hồ sơ ĐKDN duy nhất và một đầu mối tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả ĐKDN là cơ quan ĐKKD thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư.
Hội thảo xin ý kiến góp ý về dự thảo Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2011-2015
| Tham dự Hội thảo có đại diện các Sở Công Thương, Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh và thành phố thuộc khu vực Nam Bộ và Nam Trung Bộ, các trường đại học, viện nghiên cứu, hiệp hội và một số doanh nghiệp kinh doanh thương mại điện tử tại thành phố Hồ Chí Minh. Hội thảo đã nghe đại diện Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin báo cáo sơ kết 4 năm triển khai Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006-2010 và trình bày dự thảo Quyết định của Thủ tướng phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 5 năm tiếp theo. Rất nhiều ý kiến đóng góp cho các mục tiêu và nội dung của Kế hoạch đã được đưa ra thảo luận tại Hội thảo. Các đai biểu đặc biệt quan tâm đến những mục tiêu cụ thể, mang tính định hướng cho sự phát triển của thương mại điện tử Việt Nam đến năm 2015 và thống nhất rằng những mục tiêu đề ra tại dự thảo Kế hoạch là khả thi, phù hợp với thực trạng phát triển thương mại điện tử hiện nay tại Việt Nam. Đại diện Sở Công Thương thành phố Hồ Chí Minh cho biết với tốc độ phát triển hiện nay của thương mại điện tử trên địa bàn thành phố, thành phố Hồ Chí Minh sẽ hướng tới những mục tiêu cao hơn mức chung của toàn quốc mà Kế hoạch tổng thể đề ra.
Nhiều ý kiến tham luận tại Hội thảo nhấn mạnh tới tầm quan trọng của các chính sách tuyên truyền, phổ biến và đào tạo nguồn nhân lực cho thương mại điện tử, đặc biệt trong bối cảnh ứng dụng thương mại điện tử tại Việt Nam bắt đầu đi vào chiều sâu, đòi hỏi nhận thức cũng như kỹ năng khai thác của từng lãnh đạo doanh nghiệp. Các đại biểu cũng đề xuất bổ sung những biện pháp đảm bảo thực thi và cơ chế khuyến khích cụ thể nhằm đưa các chính sách của Kế hoạch tổng thể vào cuộc sống, trong đó chính sách ưu đãi thuế và các biện pháp quản lý website thương mại điện tử đã thu hút được sự quan tâm thảo luận của đông đảo người tham dự Hội thảo. Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2011-2015 xem tại đây. |
Ra mắt báo cáo Thương mại điện tử năm 2009
Để chuẩn bị triển khai các hoạt động trong năm cuối thực hiện Quyết định 222 và làm cơ sở cho việc xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch phát triển thương mại điện tử Việt Nam giai đoạn 5 năm tiếp theo 2011-2015, trong năm 2009 Bộ Công Thương đã tiến hành điều tra, khảo sát tình hình ứng dụng thương mại điện tử tại hơn 2000 doanh nghiệp trên cả nước. Trên cơ sở số liệu thu thập được, Bộ Công Thương đã tiến hành phân tích, tổng hợp và đưa ra những đánh giá toàn diện về hiện trạng ứng dụng thương mại điện tử của doanh nghiệp Việt Nam năm 2009. Bên cạnh đó, Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam 2009 cũng tập trung phân tích, đánh giá tình hình thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng được đề ra tại Quyết định 222, bao gồm xây dựng và thực thi chính sách pháp luật về thương mại điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, đào tạo trực tuyến, đồng thời so sánh kết quả triển khai năm 2009 với các năm trước.
Sau đây là một số nét nổi bật của thương mại điện tử Việt Nam năm 2009:
1. Ứng dụng TMĐT của doanh nghiệp đã đạt kết quả tốt
Kết quả điều tra của Bộ Công Thương với 2004 doanh nghiệp trên cả nước trong năm 2009 cho thấy, gần như 100% các doanh nghiệp đã tổ chức triển khai ứng dụng TMĐT ở nhiều quy mô và mức độ khác nhau. Việc ứng dụng TMĐT đã mang lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp.
Theo kết quả khảo sát, 100% doanh nghiệp tham gia khảo sát đã trang bị máy tính và trung bình mỗi doanh nghiệp có 25,8 máy tính. Có 98% doanh nghiệp đã kết nối Internet dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó 96% là kết nối bằng băng thông rộng (ADSL) và đường truyền riêng (leased line). Các doanh nghiệp cũng đã chú trọng tới việc khai thác ứng dụng cơ bản của TMĐT là thư điện tử (email) với 86% doanh nghiệp sử dụng email cho mục đích kinh doanh, trong đó tỷ lệ sử dụng của các doanh nghiệp lớn là 95%, doanh nghiệp nhỏ và vừa là 78%.
Điểm nổi bật trong ứng dụng TMĐT năm 2009 là tỷ lệ sử dụng các phần mềm phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh có xu hướng tăng. Ngoài 92% doanh nghiệp sử dụng phần mềm kế toán, các doanh nghiệp cũng đã mạnh dạn đầu tư, triển khai nhiều phần mềm chuyên dụng khác như quản lý nhân sự (43%), quản lý chuỗi cung ứng (32%), quản lý khách hàng (27%), v.v... Việc triển khai những phần mềm này đã góp phần tối ưu hóa hoạt động và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, đến nay phần lớn doanh nghiệp cũng đã chú ý và sử dụng những dịch vụ công trực tuyến do các cơ quan nhà nước cung cấp.
Hiệu quả của việc ứng dụng TMĐT năm 2009 đã rất rõ nét. Với chi phí đầu tư cho TMĐT và CNTT chỉ chiếm khoảng 5% tổng chi phí, nhưng trung bình 33% doanh thu của doanh nghiệp là từ các đơn đặt hàng qua phương tiện điện tử và doanh nghiệp cũng dành bình quân 28% chi phí mua hàng cho việc đặt hàng qua các kênh điện tử.
2. TMĐT đã phát triển rộng khắp các địa phương trên cả nước
Tại cuộc điều tra năm 2009 của Bộ Công Thương, có 53% trên tổng số 2004 doanh nghiệp tham gia là doanh nghiệp ở các địa phương khác ngoài thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Kết quả cho thấy, đến nay 100% doanh nghiệp tại các địa phương tham gia khảo sát đã trang bị máy tính, mỗi doanh nghiệp có trung bình 21,5 máy tính và cứ 10,3 nhân viên có một máy tính. Hầu hết các doanh nghiệp ở địa phương cũng đều có kết nối Internet, chủ yếu sử dụng hình thức băng thông rộng ADSL, chỉ còn khoảng 2% sử dụng hình thức kết nối qua quay số. Kết quả điều tra cũng cho thấy chỉ còn 2% doanh nghiệp chưa kết nối Internet.
Cùng với việc ứng dụng TMĐT trong doanh nghiệp ngày càng tăng, các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương cũng rất quan tâm, chú trọng tới vấn đề quản lý nhà nước về TMĐT. Với sự phối hợp, hướng dẫn của Bộ Công Thương trong việc triển khai Quyết định 222 của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006-2010, đến nay đã có 58/63 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt Kế hoạch phát triển thương mại điện tử của địa phương. Hầu hết các Sở Công Thương trên cả nước cũng đã quan tâm bố trí cán bộ chuyên trách về TMĐT để giúp Sở triển khai các hoạt động trong lĩnh vực này.
3. Dịch vụ công trực tuyến tiếp tục có bước phát triển tích cực
Cung cấp dịch vụ công trực tuyến là một nhiệm vụ quan trọng được đề ra tại Quyết định 222, theo đó Thủ tướng Chính phủ yêu cầu: “Đến năm 2010 các cơ quan chính phủ phải đưa hết dịch vụ công lên mạng, trong đó ưu tiên các dịch vụ: thuế điện tử, hải quan điện tử, các thủ tục xuất nhập khẩu điện tử, thủ tục liên quan tới đầu tư và đăng ký kinh doanh điện tử, các loại giấy phép thương mại chuyên ngành, v.v...”.
Sau bốn năm thực hiện Quyết định 222, các Bộ, ngành, địa phương đã tích cực triển khai việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến có liên quan đến thương mại và đạt được nhiều kết quả tích cực. Đến nay đã có một số dịch vụ công trực tuyến được cung cấp ở mức độ 3 như thủ tục cấp chứng nhận xuất xứ điện tử (eC/O) của Bộ Công Thương, thủ tục hải quan điện tử thí điểm của Bộ Tài chính, v.v... Trên toàn quốc, 18 địa phương đã triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 3, trong đó có nhiều dịch vụ liên quan đến thương mại như cấp giấy phép đăng ký kinh doanh, giấy phép thành lập văn phòng đại diện, giấy phép thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, v.v...
Bên cạnh đó, thực hiện Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010, hiện nay các Bộ ngành và địa phương cũng đã và đang đẩy mạnh việc cung cấp trực tuyến nhiều dịch vụ công khác. Hầu hết dịch vụ công của các Bộ, ngành đã được cung cấp trực tuyến ở mức độ 2.
4. Đào tạo trực tuyến đã hình thành và phát triển
Kết quả điều tra của Bộ Công Thương năm 2009 cho thấy đào tạo trực tuyến đã được ứng dụng khá phổ biến trong các cơ sở đào tạo ở bậc đại học và cao đẳng. Nhiều doanh nghiệp lớn và một số cơ quan nhà nước cũng đã bắt đầu triển khai ứng dụng đào tạo trực tuyến. Một số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đào tạo trực tuyến đã ra đời để phục vụ cho nhu cầu ngày càng tăng đối với hình thức đào tạo hiện đại này.
Theo kết quả khảo sát của Bộ Công Thương tại 62 trường đại học và cao đẳng, 37 trường đang triển khai ứng dụng đào tạo trực tuyến, 7 trường đã có kế hoạch triển khai đào tạo trực tuyến và không có trường nào không quan tâm tới đào tạo trực tuyến. Tuy nhiên, chỉ có 9 trường đã triển khai đào tạo trực tuyến trên 3 năm, 28 trường còn lại triển khai trong thời gian dưới 3 năm. Hầu hết các trường mới dừng ở mức chia sẻ qua mạng máy tính các tài liệu học tập, nghiên cứu đã được số hóa. Một số trường đã bắt đầu đưa phần mềm quản lý học tập vào hệ thống đào tạo trực tuyến để quản lý việc dạy và học trực tuyến.
Bên cạnh các cơ sở đào tạo, các doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước cũng bắt đầu triển khai ứng dụng đào tạo trực tuyến, đặc biệt là các tổ chức lớn, có quy mô hoạt động rộng và có nhu cầu cao về đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên như Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài chính, Tập đoàn FPT, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam, v.v...
5. Mua bán hàng hóa và dịch vụ qua Internet đã dần trở nên quen thuộc với một bộ phận người tiêu dùng tại các đô thị lớn
Hình thức mua bán qua Internet phổ biến nhất hiện nay là mua bán hàng hóa và dịch vụ qua các website TMĐT. Đến nay, đã có rất nhiều doanh nghiệp tổ chức bán hàng hóa và dịch vụ qua website TMĐT, đi đầu là các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực hàng không, du lịch, siêu thị bán hàng tổng hợp, v.v...
Cho đến cuối năm 2009, việc mua bán qua các website TMĐT đã trở nên khá phổ biến đối với một số loại hàng hóa, dịch vụ như vé máy bay, đồ điện tử, điện thoại di động, máy tính, sách, tour du lịch, phòng khách sạn, nước hoa, hoa tươi, v.v... Phương thức thanh toán và giao hàng cũng được các doanh nghiệp thực hiện rất linh hoạt, đáp ứng hầu hết các yêu cầu của người mua từ thanh toán trực tuyến, chuyển khoản sau khi đặt hàng cho đến thanh toán khi nhận hàng.
Bên cạnh các website TMĐT chuyên dụng, trong thời gian gần đây cũng đã xuất hiện nhiều mạng xã hội với số lượng thành viên tham gia lên đến hàng trăm ngàn người. Với số lượng người tham gia lớn, những mạng xã hội này đang trở thành thị trường thực sự cho các nhà kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp và cá nhân đã có những hình thức đầu tư phù hợp để nắm bắt mảng thị trường tiềm năng này như lập chủ đề (topic) và thuê vị trí cố định cho chủ đề để bán hàng hoặc quảng cáo dịch vụ. Người bán trực tiếp trao đổi, giao dịch với khách hàng trên topic và thực hiện việc bán hàng hóa và dịch vụ qua nhiều phương thức rất linh hoạt và được người tiêu dùng chấp nhận.
(Toàn văn Báo cáo Thương mại điện tử 2009 xem tại đây)